SELECT MENU

Cập nhật cổ phiếu SJD – Giá trị hợp lý của cổ phiếu là 23,000 đồng

SJD – Công ty Cổ phần Thủy điện Cần Đơn với công suất 77.6 MW nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Vì vậy nhu cầu tiêu thụ điện năng hàng năm phục vụ sản xuất và sinh hoạt rất cao. Do đó đầu ra của Nhà máy tương đối thuận lợi.

11.01.2019 SJD

Đồ thị ngày cổ phiếu SJD phiên giao dịch 11/01/2019

Ngành và vị thế công ty

– Ngành điện là ngành hoạt động ổn định theo chu kỳ kinh tế, sản lượng điện thương phẩm tăng trưởng trung bình với CAGR 2013 – 2017 là 10.7%. Các nhà máy sản xuất điện VN gồm ba nhóm chính: thủy điện, điện than, và điện khí.

– Khoảng 75%-90% sản lượng điện được bán với giá hợp đồng cho EVN với giá đảm bảo đủ chi trả tất cả các chi phí và dư ra một phần LN. Còn lại 10-25% sản lượng được bán đấu giá trên thị trường điện cạnh tranh, đây là thị trường có lợi cho các DN thủy điện hơn là nhiệt điện do giá vốn của thủy điện thấp hơn.

– Các DN thủy điện bị ảnh hưởng nhiều bởi hai hiện tượng thời tiết El Nino (hạn hán) và La Nina (mưa nhiều). Những năm El Nino làm thiết hụt nguồn nước khiến sản lượng thủy điện sụt giảm, ngược lại những năm có La Nina là những năm thủy điện được mùa.

– Xuất phát điểm chỉ sở hữu một nhà máy Cần Đơn, SJD sau đó đã đi mua lại các nhà máy khác và hiện là công ty thủy điện với tổng công suất 115MW, Mô hình kinh doanh

– SJD sở hữu 4 nhà máy thủy điện là Cần Đơn, Ry Ninh II, Nà Lơi, và Hà Tây với suất đầu tư trên 1MW lần lượt là 14, 17, 19 và 36 tỷ đồng. Dù vậy, các nhà máy của SJD đều sử dụng máy móc công nghệ rất hiện đại từ Mỹ, Pháp, Nga, Ấn Độ, v.v chứ không dùng máy móc cũ NK từ TQ, Đài Loan như nhiều DN điện khác.

– Nhà máy Cần Đơn với công suất 77.6 MW là nhà máy chủ lực của SJD ở vị trí thuận lợi (Bình Phước) nên hiệu suất hoạt động cao hơn khá nhiều các nhà máy thủy điện khác.

– 100% sản lượng của SJD tại Cần Đơn, Ry Ninh II và Nà Lơi đã ký hợp đồng dài hạn với EVN bằng đồng USD nên đầu ra được đảm bảo và còn được hưởng lợi thế tỷ giá USD/VND luôn có xu hướng tăng. Giá bán điện được tính bằng đồng USD, hiện USD đã tăng giá gần 3% từ đầu năm nên giá bán điện cùa SJD cũng tăng nhẹ 3%.

– Sản lượng từ nhà máy Hà Tây được đấu giá trên thị trường điện cạnh tranh. Trong 2018 do nhu cầu điện tiếp tục tăng cao nên giá trên thị trường điện cạnh tranh cũng đã tăng 5%.

Triển vọng doanh nghiệp

– Nhu cầu sử dụng điện vẫn tiếp tục tăng trong bối cảnh kinh tế vĩ mô thuận lợi, dân số tăng nhanh, các DN gia tăng SXKD kéo theo nhu cầu về điện tăng cao.

– Do 100% sản lượng của SJD đã cố định giá bán dài hạn với EVN nên triển vọng của SJD phụ thuộc hoàn toàn vào sản lượng điện, mà sản lượng thì lại phụ thuộc nhiều vào yếu tố thời tiết:

(1) Trong 11 tháng đầu 2018, hiện tượng La Nina vẫn tiếp diễn từ 2017 giúp thời tiết mưa nhiều cung cấp lượng nước dồi dào giúp KQKD 2018 tích cực. Từ tháng 12/2018: hiện tượng El Nino đã quay trở lại sẽ làm sụt giảm sản lượng thủy điện, gây ảnh hưởng tiêu cực tới HĐKD của SJD. Với lượng nước dự trữ từ La Nina 2018 thì KQKD sẽ giữ được tích cực nhiều nhất tới hết Q1/2019 trước khi chịu áp lực giảm sản lượng.

(2) Giá bán điện của SJD đã tăng 5.9% nhờ giá trên thị trường điện cạnh tranh tăng theo nhu cầu cùng với tỷ giá USD/VND diễn biến theo xu hướng tăng cũng góp phần bù đắp lại phần nào sản lượng dự báo sụt giảm trong 2019.

– Trong dài hạn, SJD đối mặt với rủi ro mất đi nhà máy chủ lực Cần Đơn:

(1) Nhà máy Cần Đơn được xây theo dạng BOT, thời hạn tới 2029 SJD sẽ phải trả lại nhà máy này cho nhà nước. Hiện chưa có thông tin về hình thức bàn giao và SJD có được ưu tiên mua lại nhà máy hay không. Nếu phải bàn giao lại nhà máy Cần Đơn cho nhà nước, SJD chỉ còn 3 nhà máy tổng công suất 26.4 MW.

(2) Xu hướng chung sẽ là dịch chuyển sang sử dụng nhiệt điện nhiều hơn do sản lượng thủy điện không ổn định và biến động theo thời tiết. Giai đoạn 2024 – 2029 sẽ là năm các nhà máy của SJD hết hợp đồng với EVN và phải đàm phán ký lại.

Sức khỏe tài chính

– Do đã đi vào hoạt động từ khá lâu nên báo cáo tài chính của SJD rất lành mạnh với số dư tiền lớn và nợ vay thấp.

– Nhờ vậy, công ty thường xuyên trả cổ tức bằng tiền mặt với tỷ lệ cổ tức cao kể cả trong giai đoạn khó khăn El Nino 2015 – 2016 (2300đ/cp tương đương yield 8%). Đợt trả cổ tức gần nhất cho năm 2017 là 4500đ/cp (yield 16.7%) nhờ 2017 là giai đoạn thời tiết La Nina thuận lợi cho ngành điện.

– Dự phóng Lợi nhuận: LNST năm 2018 và 2019 đạt 240 – 198 tỷ tương đương EPS (sau KTPL) là 3,345 và 2,764đ.

Định giá nhanh:

– Định giá của HSC PCD: 23,000

– Thời gian định giá: Tháng 01/2019

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

error: Content is protected !!